Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Quy định nhập cảnh Nhật Bản

Nhât Bản luôn ngăn ngừa tình trạng bạo động hay những tác động xấu từ nước ngoài xâm nhập vào, chính vì vậy mà người nước ngoài khi nhập cảnh và Nhật Bản phải tuân thủ theo quy định của chung của Nhật đưa ra. Nếu người nhập cảnh vào Nhật Bản theo qui định mới mà từ chối cung cấp thong tin sẽ không được phép vào Nhật Bản.

Những người sau đây phải tuân thủ qui định nhập cảnh của Nhật Bản:
1.    Người dưới 16 tuổi
2.    Các cá nhân hoạt động trong tư cách “ngoại giao” hoặc “công vụ”
3.    Những người được mời bởi người đứng đầu của cơ quan hành chính quốc gia.
4.    Những người được quy định bởi pháp lệnh của Bộ Tư pháp

Người muốn nhập cảnh cần phải tuân thủ theo các thủ tục sau:
1.    Người muốn vào Nhật phải nộp hộ chiếu của mình cho nhân viên kiểm soát nhập cảnh.
2.    Nhân viên kiểm soát nhập cảnh sẽ giải thích các thủ tục cần tuân theo, người muốn nhập cảnh sẽ đặt ngón tay (cả 2 bàn tay) lên các máy đọc dấu vân tay kỹ thuật số. Dấu vân tay sẽ được đọc và lưu trữ.
3.    Một bức ảnh về khuôn mặt sẽ được chụp, camera được đặt phía trên của máy lấy dấu vân tay.
4.    Nhân viên kiểm soát nhập cảnh sau đó sẽ thực hiện một cuộc phỏng vấn.
5.    Sau khi hoàn tất các thủ tục trên, người muốn vào Nhật Bản sẽ nhận lại hộ chiếu của mình từ nhân viên.




Quy định nhập cảnh Nhật Bản

Khác biệt giữa "thầy - trò" ở Nhật Bản và Việt Nam

Nhật Bản và Việt Nam đã có nguồn gốc từ Nho Giáo, do đó truyền thống tôn sư trọng đạo luôn luôn gắn liền với lịch sử hai nước, thú vị hơn là ở Việt Nam có ngày Nhà giáo Việt Nam, là dịp để mọi người bày tỏ long biết ơn thầy cô đã dạy mình, còn ở Nhật Bản lại không có ngày này.

Theo chúng tôi tìm hiểu, điểm khác biệt lớn nhất trong mối qua hệ thầy trò ở Việt Nam và Nhật Bản đó là người thầy ở Việt Nam có vị thế cao hơn rất nhiều đối với học sinh. Ví dụ như thế này, một thầy giáo ở Việt Nam có thể dùng các hình phạt như dùng thước để phạt, thậm chí là "bạt tai"  học trò nếu học trò đó sai sót. Trong khi đó nếu một thầy giáo ở Nhật có hành động tương tự sẽ bị báo đài lên tiếng hay một giảng Viên ở Việt Nam có thể "mắng" sinh viên nếu sinh viên này ngủ gật mà trong khi đó sinh viên Nhật ngủ gật là chuyện bình thường (nhiệm vụ của anh ta là đến trường và chịu sự điểm danh - còn học hay không là quyền cá nhân)…

Ngày đầu tiên bước đến giảng đường đại học của Nhật tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi thấy trong giờ học sinh viên có thể ngang nhiên úp mặt lên bàn ngủ mà giảng viên không hề có ý kiến gì. Có lẽ lý do của việc này là bắt nguồn từ quan niệm xã hội cũng như trong nhà trường tại Nhật có sự khác biệt so với ở Việt Nam.

Xét về khỏang cách giữa học sinh và giáo viên thì có lẽ ở Nhật khoảng cách này ngắn hơn ở Việt nam - ít ra là ở môi trường đại học. Ở Việt Nam sau giờ giảng sinh viên rất khó có thể gặp giảng viên khi muốn trao đổi vấn đề gì ngược lại ở Nhật thì giảng viên công khai giờ mình có thể tiếp sinh viên tại phòng nghiên cứu. Do đó sinh viên có thể có điều kiện để gặp và trao đổi với giảng viên hơn. Hy vọng là trong tương lai cơ chế đại học của Việt Nam sẽ thay đổi và các giảng viên có phòng nghiên cứu riêng, khoảng cách giữa sinh viên và giảng viên sẽ được rút ngắn lại.
 
 
 

Thành công của giáo dục Nhật Bản

Những năm 1947 và 1950, giáo dục Nhật Bản được thay đổi thành 6-3-3-4 trên toàn quốc là 6 năm học tiểu học, 3 năm học trung học cơ sở, 3 năm học phổ thong, 3 năm học cao đẳng và 2 năm học đại học.

Những năm 90, báo cáo nhan đề “Một quốc gia lâm nguy” được công bố ở Mỹ nêu bật nhu cầu cải cách giáo dục tại Nhật Bản. Lãnh đạo hai nước Mỹ - Nhật tán thành cần phải có một cuộc nghiên cứu, so sánh nền giáo dục giữa hai nước. Sau đó, một cuộc họp thương lượng đầu tiên được tổ chức ở Kyoto có 24 nước tham dự, kết quả: Có 2 bản báo cáo được công bố. Trong một bản, các nhà nghiên cứu Mỹ báo cáo về những điểm mạnh và điểm yếu của Nhật Bản, còn các bản báo cáo kia, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cũng tiến hành tương tự như vậy đối với nền giáo dục của Mỹ.

Những tiêu chuẩn
Ở Nhật các trường tiểu học đều là trường công, chỉ có khoảng 0,7% là trường tiểu học trường tư. Các trường trung học cơ sở cũng vậy, có đến 97% là trường công và chỉ có 3% là trường tư. Có khoảng 27% trường trung học phổ thông là trường tư. Học sinh ở khu vực nào phải theo học ở trường khu vực đấy, muốn học khác tuyến cũng không được. Nhật Bản đang cố gắng tiêu chuẩn hoá trình độ giáo viên trên toàn quốc để đảm bảo chất lượng giảng dạy. Nhật Bản có đến 50 huyện, mỗi huyện chịu trách nhiệm tuyển giáo viên cho huyện mình. Một giáo viên năm nay có thể phụ trách dạy lớp 1, nhưng năm sau có thể dạy lớp 3 hay lớp 5. Cũng thường xuyên quay vòng việc dạy cũng như chuyển dạy từ trường này sang trường khác.

Những nghiên cứu sâu rộng
Tổ chức đánh giá giáo dục quốc tế đã tiến hành hai cuộc khảo sát so sánh chất lượng học tập của sinh viên trên toàn thế giới. Kết quả là ở Nhật Bản, sự khác biệt về năng lực và thành tích học tập của sinh viên giữa các trường là tối thiểu, có lẽ là ít nhất trên thế giới. Hầu hết sinh viên, học sinh Nhật Bản đều làm chủ chương trình học.
Các chuyên gia giáo dục Nhật bản đã có nhiều dự án nghiên cứu về tình hình kinh tế – xã hội cũng như văn hoá lịch sử, lối sống người dân để tìm ra chương trình giáo dục phù hợp nhất cho mọi cấp độ. Người Nhật rất “dị ứng” với việc đem hệ thống giáo dục nước khác áp dụng vào nước mình. Có thể đó cũng là một yếu tố đưa hệ thống giáo dục Nhật Bản có được nhiều chuẩn mực riêng.

Truyền thống học tập
Về sách giáo khoa, các công ty xuất bản liên hệ với các giáo sư và giảng viên các trường đại học chuyên về môn học nào đó để chuẩn bị sách giáo khoa. Những cuốn sách này sẽ trình lên Bộ Giáo dục thông qua. Tiêu chuẩn dựa trên các khoá học do Bộ tổ chức. Chỉ có những cuốn sách nào đáp ứng được tiêu chuẩn mới được đưa vào thử nghiệm sử dụng ở trong nhà trường. Bộ giáo dục và đào tạo cũng có một số bộ phận chuyên trách tuyển chọn sách giáo khoa cho từng cấp độ khá nghiêm túc. Nếu thanh tra giáo dục không thông qua cuốn sách nào đó, thì cuốn sách đó không được phép sử dụng trong nhà trường. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt khá lớn về thái độ của người phương Tây với người Nhật đối với sách giáo khoa. Hầu hết người Nhật không nghĩ sách giáo khoa chỉ là công cụ, mà chúng còn hàm chứa truyền thống, nhưng vấn đề là làm thế nào tự thoát ra khỏi những thái độ truyền thống đối với sách giáo khoa, vì sách giáo khoa mà chỉ mang nội dung truyền thống sẽ làm cho học sinh sợ khi buộc phải nhớ tất cả những thông tin đó. Nếu không sửa đổi sẽ không thể cải thiện giáo dục, đặc biệt những môn học xã hội. Ngày nay, những người biên tập sách giáo khoa đã có một quan điểm rõ ràng: Chính học sinh, sinh viên là những người sử dụng thật sự những cuốn sách giáo khoa đó, còn giáo viên chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của học sinh mà thôi.
  

BÀI VIẾT XEM NHIỀU:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét